Cử nhân viên đi công tác, không bắt buộc xác nhận nơi đến trên Giấy đi đường


Công ty chúng tôi là doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Công ty chúng tôi thường phải cử nhân viên đi công tác trong và ngoài nước. Trước khi đi công tác, chúng tôi có làm Quyết định cử đi công tác. Chúng tôi có phải làm Giấy đi đường không? Nếu có thì khi đi tham dự hội chợ triển lãm, thăm dò thị trường..., chúng tôi lấy dấu xác nhận của nơi đến như thế nào?
Chúng tôi có thể lấy xác nhận dấu của khách sạn nơi nhân viên đến công tác để thay thế được không?


  Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh: 

Căn cứ Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN);

Trường hợp Công ty cứ nhân viên đi công tác trong nước và nước ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty (có các hồ sơ chứng từ chứng minh đi công tác) nếu có phát sinh các khoản chi phí thì các khoản chi phí đi lại, tiền thuê chỗ ở nếu có đầy đủ hóa đơn hợp pháp của bên cung cấp dịch vụ ghi rõ tên, địa chỉ, mã số thuế của Công ty thì được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TDNN. Riêng tiền phụ cấp cho người lao động đi công tác được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 2 lần mức quy định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính đối với cán bộ công chức, viên chức nhà nước.

Trân trọng.


Nguồn: Hệ thống Đối thoại Doanh nghiệp

Không đăng ký khuyến mại, hàng mẫu phải chịu thuế GTGT

Trường hợp xuất hàng mẫu cho khách hàng thì giá tính thuế căn cứ trên giá vốn hay giá bán? Chi phí hàng mẫu này có được tính trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN không?
Ly Thi Thanh Thuy - Cong Ty TNHH Diaen tu Vien Thong Hai Dang: 


 Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh: 

Tại điểm 2.4 Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 thì “đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu phục vụ cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ (sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu theo quy định của pháp luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại) thì phải lập hoá đơn, trên hoá đơn ghi tên và số lượng hàng hoá, ghi rõ là hàng khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu không thu tiền; dòng thuế suất, thuế GTGT không ghi, gạch chéo.” 

Trường hợp Công ty xuất hàng mẫu có đăng ký với Sở Công thương theo Nghị định số 37/2006/NĐ-CP thì lập hoá đơn theo hướng dẫn trên. Trường hợp không đăng ký thì phải lập hóa đơn GTGT, tính thuế GTGT như sản phẩm cùng loại bán ra.

Chi phí hàng mẫu xuất cho khách hàng như trình bày được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN và thuộc nhóm chi bị khống chế 10% tổng chi phí được trừ quy định tại điểm 2.19 khoản 2 Điều 6 Thông tư 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012.
 Nguồn: Hệ thống Đối thoại Doanh nghiệp


Chi phí phát hành CP và dự phòng phải trả đưa vào chỉ tiêu nào của LCTT?

Câu hỏi 710: (Nguyễn Duy Quảng) Ngày 28/11/2012: 1. Chi phí phát hành cổ phiếu trả bằng tiền thì khoản tiền này được phân loại vào chỉ tiêu nào trên Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ? 2. Trên Báo cáo LCTT được lập theo phương pháp gián tiếp: Tại sao khoản "Dự phòng phải trả" không được phân loại trên chỉ tiêu "Các khoản dự phòng" (phần Điều chỉnh cho các khoản) mà lại phân loại vào "chênh lệch các khoản phải trả". Xin cảm ơn!


Trả lời: 
Về câu hỏi của Bạn, Ban Tư vấn VACPA có ý kiến như sau:

1. Hiện tại chưa có hướng dẫn chính thức về phương pháp trình bày Chi phí phát hành cổ phiếu trên BCLCTT, tuy nhiên về bản chất chi phí này cần được trình bày vào luồng tiền từ hoạt động tài chính làm giảm chỉ tiêu "Tiền thu từ phát hành cổ phiếu", ví dụ:
Tiền thu từ phát hành cổ phiếu:           100
Chi phí phát hành cổ phiếu:                     5
Chỉ tiêu tiền thu từ phát hành cổ phiếu: 95

2. Khoản dự phòng phải trả có thể được trình bày vào chỉ tiêu các khoản dự phòng. Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành chưa có quy định là do hướng dẫn về BCLCTT ban hành trước VAS 18. Thời gian tới có thể Bộ Tài chính sẽ có hướng dẫn sửa đổi bổ sung về khoản mục này./.

Các khoản phí trích nộp từ năm 2013

Ngoài các khoản phí bắt buộc như Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), phí công đoàn... năm 2013 sẽ có thêm khoản phí đường bộ dành cho các doanh nghiệp có xe hơi, xe tải hoặc xe đưa đón nhân viên. Trước khi bước vào năm 2013, Luật Việt Nam xin tổng hợp các khoản phí mà hầu hết các doanh nghiệp đều phải nộp
 
Bảo hiểm xã hội: tăng mức đóng do tăng lương tối thiểu
Theo lộ trình tăng tỷ lệ đóng BHXH quy định tại điều 42 và 43 Nghị định 152/2006/NĐ-CP thì đến năm 2014 mới tiếp tục tăng lên 26% (trong đó doanh nghiệp đóng 18% và người lao động đóng 8%). Tại thời điểm 2013, tỷ lệ đóng BHXH vẫn giữ nguyên theo mức của năm 2012 là 24% (doanh nghiệp: 17%, người lao động 7%, điểm 1 Mục I Công văn số 555/BHXH-THU ngày 17/2/2012). Tuy nhiên, do mức lương tối thiểu vùng đã tăng khoảng 18% theo Nghị định 103/2012/NĐ-CP nên mức đóng BHXH năm 2013 vì thế sẽ tăng theo.

Bảo hiểm thất nghiệp: vẫn 2%
Luật BHXH không có quy định lộ trình tăng mức đóng cho quỹ BHTN nên tỷ lệ đóng vẫn giữ mức 2% theo quy định tại Điều 25 Nghị định 127/2008/NĐ-CP. Tỷ lệ đóng 2% BHTN được thực hiện từ năm 2009 (năm đầu tiên thực hiện BHTN) đến nay.

Phí Công đoàn: Doanh nghiệp FDI tăng thêm 1%
Đối với các doanh nghiệp vốn trong nước thì phí công đoàn từ trước đến nay trích đóng theo Thông tư Liên tịch số 119/2004/TTLT-BTC-TLĐLĐVN ngày 08/12/2004 vẫn là 2%. Riêng doanh nghiệp có vốn tư nước ngoài thì trước khi Luật Công đoàn có hiệu lực, mức đóng phí công đoàn theo Quyết định số 133/2008/QĐ-TTg ngày 01/10/2008 chỉ 1%
Kể từ ngày 1/1/2013, Luật Công đoàn số 12/2012/QH13 sẽ có hiệu lực, thay thế Luật công đoàn số 40/1990/QH8 ngày 7/7/1990. Theo Luật mới, phí Công đoàn áp dụng chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp không biệt vốn trong nước hay vốn nước ngoài là 2%, tính trên tổng quỹ lương

Phí đường bộ: 2.160.000 đồng/ xe/ năm
Các doanh nghiệp nếu có đăng ký sở hữu xe ô tô và xe máy từ năm 2013 sẽ phải chịu thêm phí đường bộ theo quy định tại Thông tư số 197/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012.
Theo Biểu phí quy định tại Phụ lục đính kèm Thông tư số 197/2012/TT-BTC thì xe ô tô dưới 10 chỗ đăng ký theo tên của doanh nghiệp thì mức thu phí mỗi năm là 2.160.000 đồng/năm; nếu đăng ký tên cá nhân thì mức thu phí giảm còn 1.560.000 đ/năm
- Xe tải dưới 4 tấn:  2.160.000 đồng/năm
- Xe tải từ 4 - 13 tấn:  2.760.000 đồng/năm
- Xe dưới 25 chỗ:   3.240.000 đồng/năm
- Xe dưới 40 chỗ:   4.680.000 đồng/năm
- Xe trên 40 chỗ:   7.080.000 đồng/năm

Thuế môn bài: đóng theo mức cũ nếu không thay đổi vốn điều lệ
Thuế môn bài được xác định theo bậc, tương ứng với số vốn điều lệ của doanh nghiệp. Từ ngày 1/4/2003 đến nay, mức thuế môn bài vẫn được giữ nguyên theo biểu thuế quy định tại Điểm 1 Thông tư 42/2003/TT-BTC như sau:
Bậc thuế môn bài
Vốn đăng ký
Mức thuế Môn bài cả năm
- Bậc 1Trên 10 tỷ
3.000.000 
- Bậc 2Từ 5 tỷ đến 10 tỷ
2.000.000 
- Bậc 3Từ 2 tỷ đến dưới 5 tỷ
1.500.000 
- Bậc 4Dưới 2 tỷ
1.000.000 

Riêng:
- Các chi nhánh hạch toán phụ thuộc, không xác định được vốn đăng ký, nộp thuế môn bài theo mức chung 1.000.000 đ/năm
- Các cửa hàng, quầy hàng, cửa hiệu... trực thuộc doanh nghiệp hoặc chi nhánh xác định mức thuế môn bài theo doanh thu hằng tháng như quy định dành cho hộ kinh doanh tại điểm 2 Mục I Thông tư số 96/2002/TT-BTC. Mức thuế môn bài cao nhất đối với trường hợp này là 1.000.000 đ/năm dành cho thu nhập từ 1,5 triệu đồng/tháng trở lên. Do đó, các cửa hàng, quầy hàng, cửa hiệu... của doanh nghiệp hầu như phải nộp theo mức 1.000.000 đồng/năm
- Văn phòng đại diện và kho thuê chỉ để chứa hàng (không kinh doanh) được miễn nộp thuế môn bài. http://luatvietnam.net/Thue-Mon-bai/Van-phong-dai-dien-khong-phai-nop-thue-mon-bai-gdpl17003.html, http://luatvietnam.net/Thue-Mon-bai/Kho-chi-de-chua-hang--mien-nop-thue-mon-bai-gdpl16713.html
- Đã nộp hồ sơ giải thể nhưng chưa được Sở Kế hoạch và Đầu tư thu hồi Giấy chứng nhận ĐKKD vẫn phải nộp thuế môn bài. http://luatvietnam.net/Thue-Mon-bai/Cham-giai-the-van-phai-nop-thue-mon-bai-cho-nam-moi-gdpl16249.html
- Ngừng kinh doanh trọn một năm thì được miễn nộp thuế môn bài cho chính năm đó (Công văn số 950/TCT-KK ngày 16/3/2012 của Tổng cục Thuế)
Việc kê khai thuế môn bài thực hiện ngay trong tháng được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD. Các năm sau đó nếu không có thay đổi về mức vốn đăng ký (tức vốn điều lệ) thì không cần kê khai lại.
http://luatvietnam.net/Thue-Mon-bai/Von-dieu-le-khong-thay-doi--khong-can-lap-lai-To-khai-thue-mon-bai-gdpl13879.html
Nếu có thay đổi thì kê khai trước ngày 31/12 hằng năm (Điều 15 Thông tư số 28/2011/TT-BTC ). Tờ khai thuế môn bài sử dụng theo mẫu 01/MBAI đính kèm Thông tư 28/2011/TT-BTC .
Thời điểm nộp thuế môn bài là tháng 1 Dương lịch hằng năm. Đối với doanh nghiệp mới thành lập thì nộp ngay trong tháng bắt đầu kinh doanh (Điểm 1 Mục II Thông tư số 96/2002/TT-BTC )




H. T. Long (LuatVietnam

Xử lý chênh lệch tỷ giá khi quyết toán thuế TNDN


Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các giao dịch có nguồn gốc ngoại tệ phát sinh ngày càng phổ biến. Về nguyên tắc, việc xử lý các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái chịu sự chi phối bởi các quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán khi lập và trình bày báo cáo tài chính. Đồng thời, trong quá trình sử dụng số liệu kế toán để kê khai thuế TNDN, việc xử lý chênh lệch tỷ giá lại tuân thủ các quy định của Luật Thuế TNDN. Vấn đề đặt ra là, các quy định của chuẩn mực, chế độ kế toán đang có sự khác biệt nhất định với chính sách thuế TNDN hiện hành, dẫn đến sự thiếu nhất quán trong việc sử dụng thông tin kế toán để kê khai, quyết toán thuế TNDN.

TS Mai Ngọc Anh
Quy định hiện hành về xử lý chênh lệch tỷ giá 
 Về phương diện kế toán, vấn đề xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái được quy định trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 10 (VAS 10), được cụ thể hóa trong chế độ kế toán DN ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ - BTC, ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Ngoài ra, vấn đề xử lý chênh lệch tỷ giá còn được quy định trong một số văn bản riêng. Gần đây nhất, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 179/2012/TT - BTC ngày 24/10/1012 thay thế Thông tư 201/2009/TT - BTC ngày 15/10/2009 hướng dẫn xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái áp dụng cho việc ghi sổ và lập báo cáo tài chính DN, đảm bảo phù hợp với quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành.
Về phương diện tính thuế TNDN, Luật Thuế TNDN năm 2008 và hệ thống các văn bản hướng dẫn đều có các quy định về việc xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái, phục vụ cho công tác tính và kê khai thuế TNDN. Mới đây, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 123/2012/TT - BTC ngày 27/7/2012, trong đó, các quy định về xử lý chênh lệch tỷ giá được đề cập khá cụ thể. 
 Có thể so sánh các khía cạnh chủ yếu giữa quy định của chuẩn mực, chế độ kế toán và chính sách thuế hiện hành đối với việc xử lý chênh lệch tỷ giá như sau:

Khoản chênh lệch tỷ giá
Kế toán ghi nhận và lập báo cáo tài chính
Điều chỉnh tờ khai quyết toán thuế TNDN
Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kì liên quan đến các hoạt động mua, bán, thành toán ngoại tệ.
Được ghi nhận là chi phí tài chính hoặc doanh thu hoạt động tài chính, trên báo cáo kết quả kinh doanh
Được chấp nhận là thu nhập tính thuế hoặc chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế, nên không điều chỉnh trên tờ khai thuế.
Khoản lãi, lỗ chênh lệch tỷ giá đánh giá lại các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ.
Được bù trừ và ghi nhận là chi phí tài chính hoặc doanh thu hoạt động tài chính trên báo cáo kết quả kinh doanh
Được chấp nhận là thu nhập tính thuế và chi phí được trừ khi tính thuế TNDN nên không cần điều chỉnh trên tờ khai quyết toán thuế.
Khoản lãi chênh lệch tỷ giá khi đánh giá lại các khoản mục là vốn bằng tiền và nợ phải thu.
Ghi nhận là doanh thu hoạt động tài chính trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Trình bày trong chỉ tiêu “B11” của tờ khai quyết toán thuế để điều chỉnh giảm thu nhập chịu thuế TNDN do khoản lãi này chưa chịu thuế của năm hiện hành
Khoản lỗ chênh lệch tỷ giá khi đánh giá lại các khoản mục là vốn bằng tiền và nợ phải thu.
Ghi nhận là chi phí tài chính trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của năm hiện hành
Trình bày vào chỉ tiêu “B4” của tờ khai để điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế TNDN, do khoản chi phí này không được trừ khi tính thuế.
 Trường hợp chênh lệch tỷ giá phát sinh trong giai đoạn đầu tư TSCĐ trước khi DN đi vào hoạt động: Về cơ bản, chế độ kế toán và chính sách thuế đều quy định thống nhất với nhau. Theo đó, các khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình thanh toán, mua bán và chênh lệch tỷ giá phát sinh khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ được ghi nhận lũy kế trên bảng cân đối kế toán. Khi đưa TSCĐ vào hoạt động, các khoản chênh lệch này được phân bổ dần vào chi phí tài chính, hoặc doanh thu hoạt động tài chính với thời gian phân bổ không quá 5 năm.
Nếu  chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kì, khi DN đã đi vào hoạt động SXKD được kế toán ghi nhận vào chi phí hoặc doanh thu hoạt động tài chính. Về phương diện tính thuế, các khoản chi phí tài chính và doanh thu hoạt động tài chính liên quan đều được xem xét cho mục đích tính thuế.
 Riêng phần chênh lệch tỷ giá phát sinh do đánh giá lại số dư các khoản mục có gốc ngoại tệ cuối kì, đang có sự khác biệt đáng kể giữa quy định của chế độ kế toán và chính sách thuế TNDN hiện hành. Cụ thể,  theo Thông tư 179, khi DN đánh giá lại số dư của các khoản mục có gốc ngoại tệ cuối kì, các khoản chênh lệch lãi, lỗ tỷ giá được bù trừ với nhau, khoản chênh lệch còn lại được ghi nhận vào chi phí tài chính hoặc doanh thu hoạt động tài chính của năm hiện hành. Tuy nhiên, khi tính thuế TNDN, Thông tư 123 lại quy định: các khoản lãi hoặc lỗ khi đánh giá lại các khoản mục là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, nợ phải thu có gốc ngoại tệ không được ghi nhận là khoản thu nhập tính thuế, hoặc chi phí được trừ khi kê khai thuế TNDN.  Chênh lệch tỷ giá phát sinh do đánh giá lại các khoản nợ phải trả được bù trừ giữa chênh lệch lãi tỷ giá và chênh lệch lỗ tỷ giá. Sau khi bù trừ, chênh lệch tỷ giá còn lại (lãi hoặc lỗ) được ghi nhận là thu nhập chịu thuế, hoặc chi phí được trừ khi tính thuế TNDN của kì tính thuế.
Từ những khía cạnh so sánh, có thể nhận thấy, các quy định của chính sách thuế và chuẩn mực, chế độ kế toán về xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái có một số điểm khác biệt nhất định. Sự khác biệt này có thể dẫn tới DN phải thực hiện một số điều chỉnh khi sử dụng thông tin kế toán để lập tờ khai quyết toán thuế thu nhập DN:
 Xử lý kế toán đối với sự khác biệt trong ghi nhận chênh lệch tỷ giá.
 Rõ ràng, sự khác biệt trong ghi nhận và xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái giữa chuẩn mực, chế độ kế toán và chính sách thuế TNDN một mặt đã ảnh hưởng tới việc sử dụng thông tin kế toán để kê khai thuế TNDN. Mặt khác, còn buộc kế toán DN phải xem xét ghi nhận các khoản mục thuế TNDN hoãn lại theo Chuẩn mực kế toán số 17 - Thuế TNDN.
Về bản chất khoản lãi, lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục vốn bằng tiền và nợ phải thu là một khoản chênh lệch tạm thời. Trong những năm tiếp theo, khi các giao dịch thanh toán, bán ngoại tệ được thực hiện, khoản lãi hoặc lỗ chênh lệch tỷ giá liên quan sẽ phải chịu thuế TNDN, hoặc được khấu trừ cho mục đích tính thuế TNDN. Do vậy, kế toán phải xem xét ghi nhận tài sản thuế TNDN hoãn lại hoặc khoản thuế TNDN hoãn lại phải trả phát sinh từ chênh lệch này phù hợp với quy định của Chuẩn mực kế toán số 17.
 Trên thực tế, việc xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái, bản thân nó đã là một vấn đề khá phức tạp, xét trên phương diện kế toán và phương pháp tính thuế TNDN. Đã thế, do mục tiêu và cách tiếp cận khác nhau nên các quy định của chuẩn mực, chế độ kế toán và chính sách thuế TNDN ở các nước nói chung và ở Việt Nam hiện nay vẫn còn có sự khác biệt nhất định. Vì vậy, nhận thức đúng mối quan hệ này sẽ giúp các DN một mặt tuân thủ chuẩn mực, chế độ kế toán khi lập các báo cáo tài chính, đồng thời thực hiện kê khai đúng và đầy đủ nghĩa vụ thuế đối với NSNN./.
Nguồn   VACPA